Tinh dầu hương nhu

Cây Hương nhu tía là gì?

Hương nhu tía còn có tên gọi khác là É đỏ, É tía. Tên khoa học là Ocimum tenuiflorum L., thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae).

Cây nhỏ, tùy vào môi trường bên ngoài mà cây có thể sống một vài năm rồi chết hoặc có thể sống nhiều năm. Thuộc dòng cây thân thảo, với chiều cao từ 1m đổ xuống. Thân cành màu đỏ tía, có phủ ngoài một lớp lông tương đối. Lá mọc đối, màu nâu đỏ, lá hình mác hoặc hình trứng, mép có răng cưa, hai bề mặt lá đề có phủ lông. Hoa màu trắng hoặc màu tím mọc thành các chùm, tụm lại ở đầu cành. Thuộc giống quả bể,

Phân bố:

Hương nhu tía có nguồn gốc từ Châu Á, bởi vậy chúng ưa khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm, nhiệt độ trung bình năm khoảng 25 – 30 độ C’; lượng mưa 1800 – 2600 mm/năm. Ở các vùng núi cao có khí hậu nhiệt đới, hơi lạnh nên không trồng. Ở nước ta, để trồng được Hương nhu tía người ta sẽ phải tạo môi trường nhân tạo, nhằm đáp ứng nhu cầu sống của cây, bởi vậy bạn sẽ thật may mắn nếu tìm được vừơn trồng giống cây này.

Bộ phận dùng:

Bộ phận dùng làm thuốc là toàn cây trừ rễ, thu hái lúc cây đang ra, phơi hoặc sây khô (Herba Ocimi).

Thành phần hóa học:

Phần trên mặt đất của cây Hương nhu itas có chứa tinh dầu với tỉ lệ 0,5% ở cây khô, thành phần chính của tinh dầu là eugenol (chiếm khoảng 70% lượng tinh dầu toàn phần).

Tác dụng – công dụng chung của cây Hương nhu tía:

Hương nhu tía được dùng để chữa cảm sốt, nhức đầu, đau bụng, đi ngoài, nôn mửa, cước khí, thủy thủng. Nước sắc lá dùng để súc miệng chữa hôi miệng.

Trong đó eugenol có trong cây Hương nhu tía được chiết suất dùng làm thuốc tê tại chỗ, sát trùng, dùng trong nha khoa để điều trị răng mòn, tê buốt.

Một số nghiên cứu khoa học về cây Hương nhu tía:

Tác dụng kháng khuẩn: 

  • Ở Việt Nam, tác dụng kháng khuẩn của tinh dầu hương nhu tía đã được Viện nghiên cứu Đông y thí nghiệm trên các chủng sâu với sự đánh giá bằng đường kính vòng vô khuẩn. Với Bacillus mycoides có vòng vô khuẩn là 22 mm, B.subtilis là 60, Diplococcus pneumonia là 0 ( tức không có tác dụng), Escherichia coli là 15, Klebsiella sp là 12, Mycobacterium tuberculosis là 18, Proteus vulgaris là 18, Salmonella typlii là 22, Shigella dysenteriae là 30, Sh.flexneri là 12, Staphylococcus aureus là 20, Streptococcus haemolyticus là 15 (Trích: Bô Y tế – Công trình nghiên cứu khoa học y dược 1977 – 1989).
  • Tài liệu Ấn Độ cũng đã đề cập đến tác dụng kháng khuẩn của tinh dầu hương nhu đối vói Mycobacterium tuberculosis. Bacillus pyocyaneus, Escherichia coli, Salmonella typhi và có nhận định rằng tác dụng kháng khuẩn đối vối Mycobacterium tuberculosis của tinh dầu hương nhu bằng khoảng 1/10 của tác dụng Streptomycin và bằng 1/4 của isoniazid. Ngoài ra, tài liệu còn cho thấy hương nhu tía có tác dụng trừ muỗi nên việc trồng hương nhu quanh nhà được coi là một biện pháp khống chế muỗi (Theo: The Wealth of India Vol VII – 1966 – 1984)

Tác dụng chống viêm, giảm đau, hạ sốt:

  • Dạng dịch chiết bằng methanol và dạng nhũ dịch điều chế từ hương nhu tía đã được thí nghiệm về các tác dụng chống viêm, giảm đau và hạ sốt. Kết quả thu được cho thấy cả 2 dạng bào chế trên đều có tác đụng. Về chống viêm, các dạng bào chế đều có tác dụng ức chế phù gan, bàn chân của chuột cống trắng cho carragenin gây nên trên mô hình gây viêm cấp tính và ức chế sự hình thành dịch ri, tổ chức hạt trong mô hình gây viêm mạn đo tiêm dầu croton gây nên.
  • Ở cả 2 thí nghiệm trên, tác dụng chống viêm của dịch chiết và nhũ dịch với liều 500mg/kg có tác dụng tương đương salicylat natri với liều 300 mg/kg.
  •  Về tác dụng giảm đau, trong thí nghiệm dùng tấm nóng (hot-plate) đối với chuột nhắt trắng, dịch chiết bằng methanol và nhũ dịch đều có tác dụng giảm đau, trong đó dịch chiết có tác dụng mạnh hơn.
  • Ngoài ra dịch chiết còn có tác dụng kéo dài thời gian gây phản ứng cong đuôi của morphin trên chuột cống trắng.

–     Trên súc vật gây sốt bằng cách tiêm vaccin thương hàn và phó thương hàn, dung dịch chiết bằng methanol với liều 250 mg/kg và nhũ dịch với liều 100 mg/kg đều có tác dụng hạ sốt. Tuy vậy, tác dụng hạ sốt của 2 dạng trên đều có tác dụng yếu hơn và có thời gian ngắn hơn so với tác dụng của salicylat natri với liều 300 mg/kg. Về cơ chế của những tác dụng trên, một số tác giả cho rằng ít nhất có phần do tác dụng ức chế sự tổng hợp prostaglandin vì hương nhu ức chế được hiện tượng tiêu chảy do dùng dầu castor gây nên trên chuột cống trắng. (J.of Ethnopharmacology 21- (1987) 15-3-163].

Tinh dầu hương nhu tía còn được chứng minh là có tác dụng diệt amib – Entamoeba moskowskii trên môi trường nuôi cấy với nồng độ 1:1280 (Bộ Y tế. Công trình nghiên cứu khoa học y dược 1977 – 196). Đồng thời tinh dầu hương nhu tía đã được chứng minh là có tác dụng kháng histamin trong thí nghiệm gây co bóp hồi trường cô lập chuột lang ( của Bộ Y tế. Công trình nghiên cứu khoa học y dược 1977-198).

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *